Quyền dân chủ ngày càng mở rộng là tất yếu của mỗi quốc gia dân chủ – Nên giữ HĐND các cấp như Hiến pháp hiện hành

QH thảo luận tại Hội trường về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Cơ bản đồng thuận với nội dung tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình QH ngày hôm qua, các ĐBQH cho rằng, Dự thảo đã tương đối hoàn chỉnh, đủ điều kiện để QH xem xét, thông qua vào cuối Kỳ họp. Một trong những nội dung được nhiều ĐBQH tiếp tục quan tâm, góp ý kiến liên quan đến quy định về Chính quyền địa phương. Khẳng định thiết chế HĐND bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, ĐBQH đề nghị nên giữ quy định về HĐND các cấp như Hiến pháp hiện hành.

ĐBQH Huỳnh Ngọc Đáng (Bình Dương): Làm rõ cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Khoản 3, Điều 2 của Dự thảo ghi: Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là nội dung quan trọng, quy định bản chất và cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta. Trong đó, nội dung kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là điểm mới của Dự thảo lần này. Sự kiểm soát lẫn nhau trong thực hiện quyền lực nhà nước là điều cần thiết và tất yếu bởi vì tự trong bản chất của quyền lực, nhất là quyền lực nhà nước cho dù đã có sự thống nhất cao, phân công rõ ràng, có quan hệ phối hợp chặt chẽ thì nguy cơ lạm quyền vẫn luôn có thể xảy ra nếu như cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước không được triển khai nghiêm túc và chặt chẽ.

Tuy nhiên, các nội dung cụ thể có liên quan đến cơ chế kiểm soát quyền lực này thể hiện trong Dự thảo còn khập khễnh. Vấn đề kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chưa được thể hiện rõ nét trong các chương, điều khác. Chỉ trong Chương V về QH ở khoản 2, Điều 70 quy định về quyền giám sát tối cao của QH. Thực chất đây là quy định về quyền kiểm soát quyền lực của QH – cơ quan lập pháp đối với các cơ quan hành pháp và tư pháp. Còn quyền lập pháp và cơ quan nhà nước về lập pháp có được kiểm soát bởi hành pháp hoặc tư pháp hay không cũng như có cơ chế nào để tư pháp kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan hành pháp và lập pháp hay không thì chưa có quy định cụ thể. Trong Chương VII, Điều 94 có quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của QH, cũng có thể hiểu rằng không có sự kiểm soát của hành pháp với lập pháp.

Điểm qua các nội dung trên thấy rằng, nội dung tiến bộ về kiểm soát quyền lực đã đề ra ở Điều 2, Chương I chưa được quy định cụ thể ở các chương điều khác sau đó. Sự khập khễnh này theo tôi là không nên có. Vì thế, đề nghị Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp bổ sung các quy định cụ thể về sự kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong các chương, điều về Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án… Đây là công việc hết sức khó khăn và phức tạp, tuy nhiên theo tôi đây là việc nên làm.

ĐBQH Phạm Đức Châu (Quảng Trị): Quy định về HĐND và UBND không thể mang tính chất “tùy nghi”

Điều 111, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định: chính quyền địa phương tổ chức các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Về ý tưởng, chúng ta muốn có một sự phân biệt giữa các loại chính quyền là đúng. Tuy nhiên, theo tôi phân biệt về thẩm quyền khác với phân biệt về tổ chức. Vì giữa chính quyền đô thị và nông thôn, về tổ chức, chức năng, quyền hạn chung cũng như quyền được đại diện, được giám sát của nhân dân thông qua cơ quan quyền lực là giống nhau. Điểm khác nhau là quy định về thẩm quyền, nhiệm vụ cụ thể của chính quyền mà trong đó chủ yếu là của cơ quan quản lý nhà nước để phù hợp với đặc điểm đô thị hay nông thôn. Thẩm quyền, nhiệm vụ cụ thể do luật định như vậy là đúng với quan điểm của Đại hội XI của Đảng là phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền nông thôn, đô thị chứ không phải là phân định về tổ chức.

Tại khoản 1, Điều 114, quy định về UBND các cấp có hai vấn đề cần nghiên cứu thêm. Một lànếu quy định như Dự thảo, UBND do HĐND cùng cấp bầu hoặc do HĐND cấp trên trực tiếp phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch UBND cùng cấp là dự tính sau này để luật quy định về tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với kết quả thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường. Và chắc chắn theo quy định đó là mọi cấp chính quyền đều có UBND nhưng không phải mọi cấp chính quyền đều có HĐND. Theo tôi, dù thí điểm có thành công hay không, quy định như vậy cần xem xét lại. Bởi vì nếu thí điểm thành công nghĩa là ở chính quyền đô thị không có HĐND quận, phường. Vậy khi không có HĐND quận là HĐND cấp trên trực tiếp của phường thì cơ quan nào phê chuẩn UBND phường? Còn nếu thí điểm thành công nghĩa là HĐND có ở mọi cấp chính quyền thì UBND đều do HĐND cùng cấp bầu chứ không có trường hợp HĐND cấp trên trực tiếp phê chuẩn như Dự thảo.

Hai là quy định UBND là cơ quan chấp hành của HĐND. Vậy khi UBND  được tổ chức ở nơi không có HĐND thì có phải là cơ quan chấp hành của HĐND  hay không? Chính vì vậy, tôi rất mong QH xem xét Báo cáo kết quả thí điểm của việc không tổ chức HĐND quận, huyện, phường của Chính phủ và Báo cáo giám sát của UBTVQH để khẳng định mức độ thành công của việc thí điểm và đưa quy định vào ngay trong Hiến pháp, chính quyền cấp nào, ở đâu không tổ chức HĐND, cấp nào UBND được bổ nhiệm hoặc được phê chuẩn chứ không thể quy định mang tính tùy nghi như Dự thảo.

ĐBQH Phạm Xuân Thường (Thái Bình): Thiết chế HĐND bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, vì sao không tổ chức HĐND mà lại tìm cách loại trừ?

Trong chương Chính quyền địa phương, tại khoản 1, Điều 110 dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có quy định về đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập. Tôi đồng ý đưa vào Hiến pháp nội dung này, tuy nhiên, cần quy định rõ đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt thành lập ở cấp nào, cấp tỉnh, cấp huyện hay cấp xã. Hiện nay, cấp tỉnh chúng ta có Thủ đô Hà Nội, có quy chế đặc biệt; cấp huyện, có Phú Quốc và đang lập dự án xây dựng Vân Đồn – Quảng Ninh; và sau đó là những đơn vị nào?… Đã là đặc biệt thì phải là số ít, thậm chí chỉ là 1; nếu đặc biệt mà là số nhiều sẽ không còn là đặc biệt nữa. Việc có nhiều đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam thiếu thống nhất, tản mát, dễ bị lợi dụng. Vì vậy, đề nghị QH cân nhắc kỹ quy định này và quy định cụ thể trong Hiến pháp.

Về tổ chức chính quyền HĐND và UBND, Điều 114 quy định: UBND do HĐND cùng cấp bầu hoặc do HĐND cấp trên trực tiếp phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch UBND cùng cấp. Quy định này cho thấy, trong tổ chức bộ máy chính quyền địa phương dưới cấp tỉnh nơi sẽ có HĐND, nơi không có HĐND. Mặc dù chúng ta đã thí điểm bỏ HĐND quận, huyện, phường theo Nghị quyết 26 của QH nhưng đến nay chưa đủ thời gian để quyết định có bỏ hay không mà QH đang cho tiếp tục thí điểm.

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc, do vậy không thể không quy định cụ thể, rõ ràng. Mặt khác, thiết chế HĐND bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, vì sao không làm HĐND mà lại tìm cách loại trừ. Quyền dân chủ ngày càng mở rộng là tất yếu của mỗi quốc gia dân chủ. Do vậy, tôi đề nghị trước mắt giữ HĐND các cấp như Hiến pháp hiện hành. Sau này nếu thí điểm mô hình bỏ HĐND có hiệu quả vẫn bảo đảm quyền dân chủ của người dân thì sẽ tiến hành sửa Hiến pháp.

ĐBQH Bùi Mạnh Hùng (Bình Phước): Cần quy định rõ QH, HĐND cấp tỉnh là cơ quan đại diện cho nhân dân xem xét quyết định mức độ “thật cần thiết” khi Nhà nước thu hồi đất thì sẽ cẩn trọng hơn, có hiệu quả và khách quan hơn

Khoản 1, Điều 54 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình QH lần này quy định: Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật và quy hoạch. Trong Dự thảo lần trước là được quản lý theoquy hoạch và pháp luật thì lần này đổi lại – tôi thấy đổi hai từ này không có ý nghĩa gì khác. Tôi băn khoăn chữ quản lý theo quy hoạch. Nếu quy định quản lý theo quy hoạch thì vô hình chung đã đặt tính chất pháp lý của quy hoạch ngang với pháp luật. Thực tiễn quy hoạch diễn ra ở nhiều cấp, ở xã, huyện, tỉnh, quốc gia, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch chiến lược… Các quy hoạch này cũng không tránh khỏi sự chồng chéo, có những quy hoạch thiếu khoa học, thiếu thực tế và đã được điều chỉnh nhiều lần. Đây là một trong những nguyên nhân gây lãng phí đất đai trong thời gian qua, nhiều khi quy hoạch, giải tỏa xong nhưng còn để trống, lãng phí rất nhiều. Nếu lấy quy hoạch làm cơ sở cho việc quản lý, thu hồi đất đai, tôi e rằng không ổn, dễ bị lợi dụng. Mặt khác, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý nhà nước thống nhất bằng pháp luật. Theo tôi, quy hoạch chỉ là một phương hướng để sử dụng đất sao cho hiệu quả nhất. Sức mạnh của quy hoạch phải phụ thuộc vào tính khoa học, tính thực tiễn và hiệu quả của nó. Không nên áp đặt tính pháp lý cho công tác quy hoạch. Tôi đề nghị nên bỏ từ quy hoạch trong khoản 1 này. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nên để cho luật định thì đúng tầm hơn.

Khoản 3 quy định: Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; vì lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế xã hội. Việc thu hồi đất phải bảo đảm công khai, minh bạch, bồi thường theo đúng quy định của pháp luật. Việc thu hồi đất luôn là vấn đề thời sự, rất cần thiết trong quá trình phát triển của đất nước. Song nó luôn luôn tạo ra sự xung đột về lợi ích của người sử dụng đất với Nhà nước, với các dự án. Do đó, thu hồi đất cần được quan tâm đặc biệt. Trong Dự thảo dùng từ thật cần thiết do luật định, tôi thấy đã thể hiện được sự cân nhắc kỹ lưỡng của Ban soạn thảo, song tôi băn khoăn về khái niệm thật cần thiết: thế nào là thật cần thiết, cần thiết ở mức độ nào và ai sẽ xem xét mức độ cần thiết đó?

Trên tinh thần đất đai là sở hữu toàn dân, tôi đề nghị cần quy định rõ QH, HĐND cấp tỉnh là cơ quan đại diện cho nhân dân xem xét quyết định mức độ thật cần thiết này thì sẽ cẩn trọng hơn, có hiệu quả và khách quan hơn, tạo được sự đồng thuận cao trong quá trình thu hồi đất. Như vậy, trong khoản 3 tôi đề nghị sửa lại là: Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định và được QH, HĐND cấp tỉnh xem xét phê duyệt cụ thể vì mục đích quốc phòng an ninh; vì lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế – xã hội. Việc thu hồi đất phải mang tính công khai, minh bạch, bồi thường theo quy định pháp luật.

Nguyễn Vũ ghi; ảnh: T.Bình, Q.Khánh

Nguồn: daibieunhandan.vn
Vkyno (st)

Advertisements