Ký ức màu đỏ

QĐND40 năm đã trôi qua nhưng những trận đánh ở chiến trường như vẫn hiển hiện hằng ngày trong tôi. Trong miền ký ức màu đỏ nhưng nhức ấy, có biết bao hình ảnh thân thương của đồng đội, nhiều người đã ngã xuống cho tôi được sống đến hôm nay…

Đồng đội tôi không về

Sau tết Âm lịch năm 1972, Trung đoàn 165 thuộc Sư đoàn 312 tiếp tục tấn công địch tại điểm cao 1.300 tại khu vực Sảm Thông thuộc tỉnh Xiêng Khoảng – nước bạn Lào. Vừa đánh xong cao điểm, bọn tàn quân địch chạy tan tác vào những cánh rừng ẩn náu. Trung đội pháo cối của tôi được lệnh cử một tiểu đội cùng đơn vị bộ binh truy kích. Vì có Đại đội phó Đào trực tiếp chỉ huy mũi truy kích của Tiểu đoàn nên tôi được “ở nhà”. Bộ phận truy kích địch vừa rời khỏi nơi trú quân khoảng 30 phút thì chúng tôi đã nghe thấy tiếng súng nổ râm ran tại khu rừng trước mặt. Chúng tôi chẳng ai bảo ai nhưng đều nghĩ: “Đụng địch rồi”. Quả nhiên chỉ sau 5 phút đã có điện báo về tiểu đoàn: “Ta vừa gặp bọn tàn quân địch, diệt khoảng 10 tên. Đồng chí Đào và đồng chí Thăng đã anh dũng hy sinh”. Trời ơi! Tôi không còn tin vào tai mình nữa. Mới về chỉ huy trung đội được ít ngày, tôi đã biết hoàn cảnh của anh Đào ra sao? Còn đồng chí Thăng là chiến sĩ của tôi nên tôi biết khá rõ. Thăng mới 19 tuổi, quê ở Quảng Ninh, bố mẹ mất sớm để lại mấy anh em nheo nhóc nuôi nhau nên người cậu ta nhỏ thó. Cả đàn em trông vào người anh cả của gia đình! Cậu ta lại là “cây văn nghệ” của trung đội, đơn ca nổi tiếng với bài “Con vỏi con voi”… Đến nay, mỗi khi nghe có người hát bài này, hình ảnh Thăng lại hiện ra trước mắt tôi!

Đau thương chồng lên đau thương. Ngay sau đó, tôi lại được lệnh trực tiếp chỉ huy khẩu đội cối chốt ở đồi Mâm Xôi để yểm trợ cho bộ binh giữ chốt. Vì đã phát hiện ra chúng tôi nên bọn địch thường bắn hàng trăm quả đạn pháo tới khu vực trận địa mỗi ngày. Tới ngày thứ tám, tôi về báo cáo với anh Hiền, đại đội trưởng tình hình tư tưởng và sức khỏe của anh em. Nghe xong, anh Hiền liền nói:

– Ngày mai anh ở nhà nghỉ ngơi, tôi lên chốt thay anh và cũng để động viên anh em.

Thế là sáng hôm sau, khi tôi tỉnh dậy thì anh Hiền đã lên trận địa pháo từ lúc nào!

Cựu chiến binh Trịnh Duy Sơn (người ngồi giữa) gặp đồng đội từng chiến đấu ở Quảng Trị năm 1972. Ảnh: Ngọc Phúc.

Khoảng 10 giờ trưa hôm đó, ngay sau 3 loạt bom tọa độ thì cậu Nạp từ trên trận địa hớt hải chạy về. Cậu ta chỉ nói được đúng một câu: “Chết hết cả rồi” và lăn ra đất, bất tỉnh nhân sự. Mặc cậu Nạp nằm đấy, chúng tôi vội vớ cuốc xẻng chạy ngược lên đồi, bất chấp pháo địch đang nã tới tấp.

Trời ơi! Quả bom quái ác sao lại rơi vào đúng giữa hầm pháo. Chúng tôi chỉ còn biết tản ra khắp bãi cỏ tranh nhặt từng mảng xương thịt đồng đội gom lại…

Sau chiến tranh, tôi được điều đi công tác ở nhiều đơn vị khác nhau, mỗi ngày mỗi xa đơn vị cũ. Tới năm 1992 được nghỉ hưu tôi mới có điều kiện tìm về sư đoàn. Cũng may còn nhớ cả tên và ngày hy sinh của 7 anh nên tôi dễ dàng tìm ra quê quán và tên cha mẹ các anh. Và cũng đến lúc này tôi mới biết chính xác trong số 7 anh hy sinh chỉ duy nhất có anh Hiền đã có vợ và 2 con gái.

Lần mò mãi tôi mới tìm được gia đình anh Hiền. Ngày đó mẹ anh đã tròn 84 tuổi. Tôi cứ ngồi lặng như một khúc gỗ để mẹ và vợ anh Hiền ôm ghì lấy tôi, khản tiếng kêu khóc: “Hiền ơi! Hiền ơi sao hôm nay con mới về với mẹ…!”, “Anh Hiền ơi! Anh ra đi mà không nhắn cho em lấy một lời!”… Tôi không cầm được nước mắt khi 2 người đàn bà hơn kém nhau cả mấy chục tuổi mà có mái tóc bạc trắng như nhau, than khóc như nhau.

Đến tháng 4-2011, cụ Gái – mẹ anh Hồi ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh là bà mẹ cuối cùng trong số 14 cụ là cha mẹ của 7 anh đã ra đi. Trước khi qua đời cụ Gái còn dặn con cháu đưa vào quan tài cái túi bằng cước do anh Hồi đan từ chiến trường Lào gửi về tặng cụ. Cụ đã giữ chiếc túi kỷ vật của con mình để đựng trầu suốt 39 năm và còn muốn đem theo về cõi vĩnh hằng…

10 chiến sĩ trẻ và cuộc kiếm tìm 40 năm

Tháng 4-1972, cả Sư đoàn 312 được lệnh hành quân gấp từ chiến trường Lào về chiến trường Quảng Trị. Tôi nhận quyết định sang làm Chính trị viên phó Đại đội 11. Lúc này Ban chỉ huy đại đội chỉ có đồng chí Hoán – Đại đội trưởng và tôi. Anh Hoán đi trước cùng với Đoàn tiền trạm của trung đoàn. Tôi chịu trách nhiệm dẫn đoàn quân của đại đội với 73 cán bộ, chiến sĩ (trong đó có trên một nửa là lính mới) đi cùng đội hình trung đoàn từ Nam Đàn – Nghệ An tới bờ Nam sông Thạch Hãn.

Cuộc chiến giữ Thành cổ Quảng Trị và ngăn chặn địch lấn chiếm vùng giải phóng thật khốc liệt vô cùng. Sáu sư đoàn chủ lực và tám quân, binh chủng lần lượt thay nhau giành giữ từng tấc đất của tỉnh Quảng Trị vừa được giải phóng, quyết không cho địch vượt sang bờ Bắc sông Thạch Hãn. Sau khi ta rút khỏi Thành cổ, Sư đoàn 312 được đảm nhận chốt giữ từ Động Tiên, Động Ông Do, Khe Trai, Đá Đứng, Như Lệ, Tích Tường tới đầu cầu sắt thị xã Quảng Trị, với tổng độ dài 35km, trong khoảng thời gian từ tháng 8-1972 đến tháng 4-1973.

Để chuẩn bị đánh địch tái chiếm làng Như Lệ, tôi được tiểu đoàn báo lên nhận quân bổ sung. Khoảng 5 giờ chiều 1-8-1972, bầu trời Quảng Trị đã hơi âm u, những đám mây sà xuống các thung lũng như thể sương mù. Bởi vậy tôi mạnh dạn đi trên những thửa ruộng trống để đến khu vực đóng quân của tiểu đoàn mà không cần ngụy trang.

Đồng chí Phiên, Chính trị viên phó tiểu đoàn đưa cho tôi tờ giấy và nói:

– Đại đội 11 lần này được bổ sung 10 đồng chí, trong đó có một đồng chí là trung đội trưởng, còn lại là tân binh từ Quân khu 3 đưa vào. Đây là danh sách “trích ngang” của các đồng chí ấy.

Nhận bàn giao xong, tôi dẫn đoàn quân vừa được bổ sung về phía đơn vị mình. Tới một con suối cạn, tôi đưa anh em đi theo lòng suối và chỉ 2 người vào một hầm. Hầm được đào khoét vào bờ suối như kiểu hàm ếch. Tôi giao các đồng chí này cho đồng chí trung đội trưởng quản lý và dặn: “Các đồng chí cứ ngủ nghỉ cho lại sức, sáng mai nhận nhiệm vụ mới”. Xong xuôi tôi về hầm của mình.

Khu đóng quân của đại đội bộ ở trên một sườn đồi cách nơi ở của các tân binh khoảng 400 mét nhưng chỉ cách quả đồi trước mặt chừng 300 mét. Quân số lúc này chỉ có tôi, đồng chí Hồng – liên lạc, đồng chí Cơi – quản lý, đồng chí Hợp – y tá và đồng chí Nà – anh nuôi. Sau một đêm với những giấc ngủ chập chờn, khoảng 5 giờ sáng, đồng chí Nà đến kéo tôi dậy, nói với giọng hốt hoảng:

– Chính trị viên ơi! Em nghe như có bộ đội nói tiếng miền Nam ở quả đồi trước mặt.

– Chết thật! Ở đây làm gì có đơn vị Quân giải phóng nào. Có lẽ bọn địch tối qua nó lẻn vào chiếm đất đấy.

Quan sát ít phút chúng tôi khẳng định, bọn người đang đứng lố nhố ở quả đồi trước mặt là lính ngụy. Trời sáng mất rồi, trở tay không kịp nữa. Không còn cách nào bắt liên lạc với các trung đội đang nằm ngay trong tầm mắt địch. Không có đường dây thông tin báo về tiểu đoàn. Cả khối đại đội bộ chỉ còn một khẩu AK với 2 băng đạn và một khẩu súng ngắn của tôi. Ai mà ngờ được tình huống địch luồn sâu vào giữa đội hình đóng quân của tiểu đoàn trong đêm tối. Trước tình huống này tôi đã lệnh cho mọi người phải giữ bí mật. Chỉ khi địch tấn công trực tiếp vào đội hình ta thì mới được nổ súng, quyết chiến đấu tới cùng…

Hướng các đồng chí tân binh đang ở dọc bờ suối thì không ai có thể phát hiện địch đang ở đỉnh đồi. Đã lác đác có vài đồng chí xuất hiện trên đám ruộng khô. Thật là “lạy ông tôi ở bụi này”. Nhìn các đồng chí của mình đi lại vô tư trong khi chỉ cách địch vài trăm mét mà lòng tôi thắt lại. Các đồng chí xuất hiện mỗi lúc một đông và ngay lập tức một trận mưa pháo ập tới. Đại đội 12 ở bên cạnh trung đội tân binh cũng nằm trong mịt mù khói pháo. Khoảng 8 giờ, vừa có ánh nắng rõ thì từng đoàn máy bay phản lực thay nhau đến trút bom. Một vùng đất rộng chừng 1ha có cây xanh lúp súp, chỉ sau 2 tiếng đồng hồ đã chi chít hố bom, hố pháo, không còn một thân cây, ngọn cỏ nào đứng yên…

Đêm hôm ấy ta phải dùng 2 xe tăng và 1 đại đội bộ binh để đánh chiếm lấy lại quả đồi.

Ngày hôm sau tôi và mấy chiến sĩ trở lại con suối cạn tìm mãi mới được 6 thi thể. Chúng tôi không thể nhận ra và phân biệt được đâu là thi thể của ai? Năm 1992, về tìm danh sách các đồng chí của Đại đội 11 hy sinh ngày 2-8-1972 tại Đồi cây mít, tôi cũng không thấy có tên các đồng chí tân binh hy sinh do chính tôi chôn cất. Và 4 người không thấy xác thì liệu có còn sống hay bị vùi lấp dưới hố bom? Cha mẹ người thân của các anh có biết các anh hy sinh ở đâu, trong hoàn cảnh nào?

Thời làm lính trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu của tôi không nhiều nên bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị hy sinh tôi đều nhớ cả. Chỉ có điều tôi day dứt nhất là 9 đồng chí tân binh và một cán bộ trung đội do tôi đón về đại đội hôm mồng 1-8-1972 tên là gì, quê quán ở đâu, cha mẹ người thân của họ là ai, liệu có còn đồng chí nào sống sót không? Sau 40 năm tìm tòi lần hỏi, đến nay tôi vẫn chưa hề có câu trả lời nào. Qua bài báo này, nếu ai biết tin về 10 cán bộ, chiến sĩ tôi nhận về Đại đội 11 vào buổi chiều 1-8-1972 thì vui lòng cho tôi biết qua số điện thoại 0903100046. Hoặc qua Nguyệt san Sự kiện và nhân chứng, Báo Quân đội nhân dân, số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội, điện thoại 069.554743, 0986.588.268.

Trịnh Duy Sơn

Nguồn: qdnd.vn
Vkyno (st)


Advertisements